
Kiểm soát phát triển hệ thống đô thị
Theo đó, Chương trình có mục tiêu chính là kiểm soát phát triển hệ thống đô thị toàn quốc theo phân loại, từng bước hoàn chỉnh mạng lưới đô thị quốc gia phù hợp với giai đoạn phát triển của đất nước.
Đặc biệt, Chương trình hướng đến nâng cao chất lượng đô thị, tăng cường sức cạnh tranh đô thị trong khu vực và quốc tế; xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, kiến trúc cảnh quan phù hợp, đồng bộ, hiện đại, tạo môi trường đô thị sống tốt.
Một mục tiêu khác mà chương trình đề ra là xây dựng các giải pháp và nhiệm vụ triển khai thực hiện trong những giai đoạn tới nhằm kiện toàn cơ chế chính sách, tạo nguồn vốn và phát huy sức mạnh của cộng đồng vào mục tiêu xây dựng đô thị, nâng cao năng lực, trách nhiệm của chính quyền đô thị, thiết lập kỷ cương và tạo nguồn lực phát triển đô thị Việt Nam.
Chú trọng các chỉ tiêu chất lượng
Theo phân loại đô thị, giai đoạn 2011 - 2015 Việt Nam sẽ đạt 870 đô thị (2 đô thị đặc biệt, 15 đô thị loại I, 22 đô thị loại II, 43 đô thị loại III, 131 đô thị loại IV và 657 đô thị V), tỷ lệ đô thị hóa toàn quốc đạt 38%. Trong giai đoạn này, hệ thống đô thị quốc gia sẽ phát triển tập trung tại vùng kinh tế trọng điểm, vùng đô thị lớn, các khu kinh tế ven biển, các đô thị lớn là động lực chính của từng vùng và quốc gia nhằm thúc đẩy phát triển, tạo động lực, tác động lan tỏa đến các vùng khác. Chương trình sẽ tạo điều kiện phát triển nhanh hơn các khu vực còn nhiều khó khăn, đặc biệt là các vùng biên giới, hải đảo, Tây Nguyên, Tây Bắc và phía tây các tỉnh miền Trung, đồng thời lựa chọn một số địa bàn có lợi thế vượt trội, nhất là ở ven biển để hình thành một số khu kinh tế làm đầu tàu phát triển đảm bảo gắn phát triển kinh tế với giữ vững quốc phòng an ninh và ứng phó với biến đổi khí hậu. Ngoài ra, Chương trình hỗ trợ phát triển hạ tầng đô thị khu vực ven các đô thị lớn và các điểm dân cư tập trung dự kiến hình thành đô thị mới.
| Tổng số vốn đầu tư phát triển đô thị trong giai đoạn 2011 - 2020 là 1.098 nghìn tỷ đồng, từ ngân sách nhà nước, ODA, quỹ đầu tư phát triển và các nguồn vốn huy động khác. |
Giai đoạn 2016 - 2020, hệ thống đô thị quốc gia sẽ đạt 940 đô thị (với 2 đô thị đặc biệt, 19 đô thị loại I, 37 đô thị loại II, 58 đô thị loại III, 204 đô thị loại IV và 620 đô thị V), tỷ lệ đô thị hóa toàn quốc đạt 45%. Trong giai đoạn này sẽ phát triển đô thị trung tâm các vùng, tiểu vùng và các đô thị tỉnh lỵ là động lực tăng trưởng đô thị hóa và phát triển kinh tế - xã hội đảm bảo các đô thị này đạt chất lượng đô thị loại III trở lên. Hệ thống cũng sẽ phát triển đô thị trung tâm tổng hợp, trung tâm chuyên ngành cấp tỉnh đạt chất lượng đô thị loại IV trở lên và hỗ trợ phát triển đồng bộ hạ tầng đô thị cho các đô thị ven biển, đô thị cửa khẩu thuộc các vùng, tiểu vùng và các tỉnh gắn phát triển kinh tế với giữ vững quốc phòng an ninh và ứng phó với biến đổi khí hậu.
Hệ thống đô thị sẽ phát triển theo 6 vùng kinh tế - xã hội gồm vùng Trung du và miền núi phía Bắc (14 tỉnh), vùng Đồng bằng sông Hồng và vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ (11 tỉnh), vùng Bắc Trung bộ và duyên hải miền Trung (14 tỉnh), vùng Tây Nguyên (5 tỉnh), vùng Đông Nam bộ (6 tỉnh) và vùng ĐBSCL (13 tỉnh). Hệ thống đô thị trung tâm các cấp sẽ được phân bố hợp lý tại mỗi vùng miền, nhằm đảm bảo đô thị là động lực phát triển kinh tế tại mỗi vùng trong cả nước, phù hợp điều kiện tự nhiên, lịch sử - xã hội, tiềm năng thế mạnh và tôn trọng, giữ gìn bản sắc văn hóa của mỗi vùng miền.
Phát triển hệ thống đô thị quốc gia theo các chỉ tiêu về chất lượng. Để đảm bảo nâng cao chất lượng đô thị trong giai đoạn 2011 - 2020, hệ thống hạ tầng đô thị cần đảm bảo các yêu cầu và các chỉ tiêu cụ thể về giao thông đô thị, cấp nước đô thị, thoát nước mưa, nước thải, vệ sinh môi trường đô thị, quản lý chất thải rắn, cấp điện và chiếu sáng, nhà ở đô thị, cây xanh đô thị, bảo vệ môi trường cảnh quan…
Phát triển mạng lưới khung giao thông quốc gia Về giao thông đô thị, Chương trình đặt ra chỉ tiêu tỷ lệ đất giao thông/đất xây dựng đô thị trong giai đoạn 2011 - 2015 đối với đô thị đặc biệt, loại I và II là 20%, với đô thị từ loại III đến loại V là 15%, tỷ lệ tương ứng trong giai đoạn 2016 - 2020 là 25% và 20%. Chương trình sẽ hoàn thiện và phát triển mạng lưới khung giao thông quốc gia kết nối hệ thống đô thị trung tâm các cấp và các đô thị là động lực tăng trưởng cấp quốc gia.
|